Ca dao · Tục ngữ
Kho văn học dân gian Việt Nam — 1.000 câu ca dao, tục ngữ và thành ngữ lưu truyền qua nhiều thế kỷ.
Thương con tần tảo sớm hôm, Cơm đùm chéo áo, cháo đùm lá môn.
Ca daoSông sâu nước chảy đá mòn Của kia ăn hết, nghĩa còn ghi xương.
Ca daoThương mẹ nhớ cha như kim châm vào dạ, Nghĩ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơi Thuyền không bánh lái thuyền quầy Con không cha mẹ ai bày con nên.
Ca dao[[Ca dao Việt Nam về chống áp bức phong kiến và chống thực dân, đế quốc]]
Ca daotrăng khuya trăng rụng xuống cầu Vì con cha mẹ dãi dầu nắng mưa
Ca daoĐôi ta như ngãi Phan Trần, Khi xa ngàn dặm, khi gần bên đôi.
Ca daoNói người phải ngẫm đến ta Thử sờ lên gáy xem xa hay gần Nói người phải ngẫm đến thân Thử sờ lên gáy xem gần hay xa.
Ca daoMột tay bế lũ con thơ Một tay giành lấy mà đưa xuống bùn Một mai cha yếu mẹ già, Chén cơm ai xới, chén trà ai dâng
Ca daoThân em như trái sầu riêng Kẻ thì nói dở người thì khen ngon
Ca daoNgày nào em bé cỏn con Bây giờ em đã lớn khôn thế này Cơm cha, áo mẹ, công thầy Nghĩ sao cho bỏ những ngày ước ao.
Ca daoThân em như cá trong lờ, Hết phương vùng vẫy biết nhờ nơi đâu.
Ca daoCày đồng đang buổi ban trưa, Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày, Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
Ca daoThân em như cam quýt bưởi bòng Ngoài tuy cay đắng nhưng trong ngọt bùi.
Ca daoVì chồng nên phải gắng công Nào ai da sắt xương đồng chi đây.
Ca daoĐàn ông một trăm lá gan, Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.
Ca daoBắc thang lên đến tận trời, Bắt ông Nguyệt lão đánh mười cẳng tay. Đánh thôi lại trói vào cây, Hỏi ông Nguyệt lão: "đâu dây tơ hồng?".
Ca daoThân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng,vỏ ngoài thì đen Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi
Ca daoRủ nhau xuống biển bắt cua Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi.
Ca daoĐường dài ngựa chạy biệt tăm, Người thương có nghĩa trăm năm cũng về.
Ca daoSự đời nước mắt soi gương Càng yêu nhau lắm, càng thương nhớ nhiều.
Ca daoThân em như Hạt mưa sa
Ca daoĐêm nằm lưng chẳng tới giường, Trông cho mau sáng ra đường gặp em.
Ca daoThuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Ca daoThân em như cột đình trung, Tay dơ cũng quẹt, tay phung cũng chùi.
Ca daoLên non cho biết non cao Xuống biển cầm sào cho biết cạn sâu.
Ca daoAnh làm thợ mộc Thanh Hoa, Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay. Lựa cột anh dựng đòn tay, Bào trơn, đóng bén nó ngay một bề. Bốn cửa anh chạm bốn dê, Bốn con dê đực chầu về tổ tông. Bốn cửa anh chạm bốn rồng, Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo. Bốn cửa anh chạm bốn mèo, Con thì bắt chuột, con leo xà nhà. Bốn cửa anh chạm bốn gà, Đêm thì nó gáy, ngày ra ăn vườn. Bốn cửa anh chạm bốn lươn, Con thì uốn khúc, con trườn bò ra. Bốn cửa anh chạm bốn hoa, Trên là hoa sói, dưới là hoa sen. Bốn cửa anh chạm bốn đèn, Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ. Một đèn đọc sách ngâm thơ, Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.
Ca daoChồng người đánh giặc sông Lô Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần Chồng người cưỡi ngựa bắn cung Chồng em ngồi bếp cầm chun bắn ruồi.
Ca daoVí dầu cầu ván đóng đinh Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi Con đi trường học mẹ đi trường đời
Ca daoƠn cha nặng lắm ai ơi! Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang
Ca dao[[Ca dao Việt Nam về lao động và văn hóa]]
Ca daoNguồn: vi.wikiquote.org · vi.wiktionary.org (CC BY-SA 4.0)