────────────────────────────────────
*"Ghi chép ngoài lề, không rõ nguồn ◆"*
────────────────────────────────────
Ba ngày sau người ta mới cho trẻ con ra khỏi bãi sậy.
Con Sẻ đi trước, chân không, bùn khô đóng thành vảy ở bắp chân. Đi sau nó là mấy đứa cùng bãi, đứa nào cũng ôm một cái gì đó: cái rổ, con gà, một bó lá. Chúng nó đi qua chỗ nhà mình mà không đứa nào dừng lại, vì nhà nào cũng giống nhau cả rồi, chỉ còn bốn cái chân cột đen và một khoảng đất sạch ở giữa.
Nó không đi về nhà. Nó đi thẳng lên gò.
"Sẻ," có người gọi. "Trên ấy không có gì đâu."
Nó không quay lại.
Nền đền còn ấm. Đi trên đó, gan bàn chân biết trước mắt, biết chỗ nào tro dày, chỗ nào tro mỏng, chỗ nào dưới lớp tro là than còn đỏ. Nó đi men theo mép, tới bậc gỗ ngoài cửa, chỗ hôm ấy người ta hô nhau và nó buông tay ra.
Nó bới bằng một cái que trước, rồi bằng cả hai bàn tay.
Miếng đồng nằm sâu chừng một đốt ngón tay. Nó cầm lên, phủi vào vạt áo. Một mặt nhẵn, một mặt gợn, và trên mặt gợn ấy có nửa con chim: cái cổ dài, cái mỏ dài, một bên cánh dang ra rồi cụt ngang ở chỗ đồng gãy.
Miếng đồng ấm.
Nó biết vì sao ấm. Tro còn ấm thì cái gì nằm trong tro cũng ấm. Nó vẫn ngồi đó, hai tay úp lấy miếng đồng, cho tới khi có tiếng người dưới dốc.
*
"Mày làm gì trên ấy?"
Thằng Rí. Vai trái nó quấn lá chuối buộc dây gai, và nó đi nghiêng người, như thể bên trái nó nặng hơn bên phải.
"Không làm gì," con Sẻ nói.
"Xòe tay ra."
"Không."
Nó bước lên, chậm, ngồi xuống trước mặt con bé. Mặt nó nhìn gần thì già hơn nhiều so với nhìn xa.
"Xòe ra, tao không lấy."
Con Sẻ xòe tay.
Rí nhìn miếng đồng khá lâu. Rồi nó thở ra một hơi, và hơi thở ấy nghe như người vừa đặt được cái gánh xuống.
"Nắm lại. Nắm chặt vào."
"Anh giấu ở đâu?" con bé hỏi.
"Không nói."
"Bà bảo có ba chỗ."
"Tao không nói, mày cũng đừng hỏi." Nó đưa tay lành gạt tro trên đầu gối. "Nghe đây, Sẻ. Từ nay mày không có cái gì trong tay cả. Nhắc lại."
"Em không có cái gì trong tay cả."
"Mày chưa bao giờ lên cái gò này."
"Em chưa bao giờ lên cái gò này."
"Bà mày là bà cụ trong xóm, chết cháy. Hết. Bà mày không giữ cái gì hết."
Con bé không nhắc lại câu ấy ngay. Nó ngồi im, ngón tay cái miết vào chỗ cánh chim bị cụt, miết đi miết lại.
"Sẻ."
"Bà em chết cháy," nó nói.
"Bà mày không giữ cái gì hết."
"Bà em không giữ cái gì hết."
Rí gật đầu. Nó chống tay xuống tro để đứng lên, rồi rụt tay lại vì bỏng.
"Còn một việc nữa," nó nói. "Mai kia có đứa nào trong nhà mày sinh con gái. Mày đưa cho đứa ấy. Đừng đưa cho con trai."
"Sao lại thế?"
"Bà bảo thế."
"Bà bảo anh à?"
"Bà không bảo tao." Nó phủi hai bàn tay vào nhau. "Nhưng bà đưa cho mày chứ bà có đưa cho tao đâu."
*
Người ta xuống bãi đếm vào giữa trưa.
Ba người lính đứng ở đầu bãi, không vào. Đi vào là hai người mặc áo vải, một người cầm thẻ tre, một người là Bặc.
Bặc đi qua từng nhà, hỏi cùng một loạt câu, và cứ mỗi câu trả lời thì người kia lại vạch một vạch lên thẻ. Nhà này mấy người. Mấy người đàn ông. Mấy con trâu. Ruộng ở đâu.
Đến chỗ mấy đứa trẻ ngồi bên bờ ao, hắn dừng lại.
"Đứa nào ở trên gò xuống?"
Không ai nói gì.
"Tao thấy vết chân trên tro," Bặc nói. "Chân nhỏ. Chân trẻ con."
"Cháu," con Sẻ nói.
Hắn ngồi xổm xuống ngang tầm nó, hai tay chống lên đầu gối. "Lên đấy làm gì?"
"Tìm cái vòng của bà cháu."
"Vòng gì?"
"Vòng đồng. Bà cháu đeo ở cổ tay."
"Tìm thấy không?"
"Không."
Bặc nhìn vào mặt nó. Con bé để nguyên cho hắn nhìn, hai tay đặt ngay ngắn trên đùi, bàn tay phải nắm hờ.
"Trên ấy có cái trống to lắm phải không," hắn nói. "Cháu thấy nó bao giờ chưa?"
"Thấy rồi. Hội tháng ba người ta đánh."
"Bây giờ nó ở đâu?"
"Nó cháy rồi."
"Đồng không cháy được, cháu ạ."
Con bé nhún vai, đúng một cái, đúng cái nhún vai của một đứa trẻ đang chán câu chuyện của người lớn.
"Cháu không biết."
Hắn đứng dậy. Người cầm thẻ tre vạch thêm một vạch, và hai người đi sang bờ ao bên kia.
Mấy đứa trẻ ngồi im cho tới lúc không còn nghe tiếng chân nữa.
"Mày nói dối," thằng Cón bảo.
"Tao không nói dối."
"Bà mày có đeo vòng bao giờ đâu."
"Có."
"Tao chưa thấy."
"Mày thì thấy cái gì." Con Sẻ đứng dậy, phủi mông. "Đi bắt cua không?"
Chúng nó đi bắt cua. Suốt buổi chiều ấy con Sẻ chỉ bắt bằng tay trái, và không đứa nào hỏi vì sao, vì đứa nào cũng đang bận sục tay vào bùn.
*
Đêm ấy con Sẻ nằm với bà Vại, người đàn bà góa ở cuối bãi, người đã nhận nuôi nó vì nhà bà không còn ai để nuôi nữa.
"Mày sốt à?" bà Vại hỏi trong tối. "Người mày nóng."
"Không."
"Nằm im. Cựa quậy mãi."
Con bé nằm im. Nó đợi cho tiếng thở của bà Vại đều lại rồi mới luồn tay xuống dưới chiếu.
Miếng đồng lạnh. Lạnh như mọi thứ khác trong nhà, lạnh như cái cột, lạnh như cái nồi.
Nó úp cả bàn tay lên, giữ một lúc lâu, rồi bỏ tay ra sờ lại xem có ấm lên chút nào không.
Không ấm lên.
Nó sờ lại lần nữa.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
**CHÚ THÍCH LỊCH SỬ — CHƯƠNG 2**
† **Việc lập sổ đinh, đếm người và đếm ruộng** là công cụ cai trị cơ bản của chính quyền quận huyện nhà Hán ở Giao Chỉ sau năm 111 trước Công nguyên. Thuế và phu dịch được thu trên cơ sở những con số đó.
† **Tục nhuộm răng đen** của người Việt cổ được nhiều nguồn Trung Hoa và Việt Nam ghi nhận, thường bắt đầu ở tuổi thiếu niên và phải nhuộm nhiều lần mới đều màu.
‡ **Cấp hành chính dưới huyện** ở Giao Chỉ đầu thời Bắc thuộc không được sử liệu mô tả chi tiết. Cách tổ chức xóm, bãi, gò trong truyện là dựng lại theo hiểu biết chung về làng Việt cổ ven sông, không phải mô hình có nguồn.
◆ **Con Sẻ, thằng Rí, bà Vại** và toàn bộ tình tiết trong chương là hư cấu văn học.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →