────────────────────────────────────
*"Ghi chép ngoài lề, không rõ nguồn ◆"*
────────────────────────────────────
Đến năm con Sẻ ngoài ba mươi thì trong bãi không còn ai gọi nó là con Sẻ nữa. Người ta gọi là mụ Sẻ, rồi bà Sẻ, và cuối cùng chỉ gọi là bà, vì trong bãi lúc ấy chỉ còn một bà.
Con gái bà tên Nầm. Năm Nầm mười hai tuổi, bà gọi nó ra sau bếp vào một buổi chiều không có việc gì đặc biệt.
"Ngồi xuống. Đưa tay đây."
Nầm đưa tay. Bà đặt vào đó miếng đồng.
"Cái gì thế mẹ?"
"Mẹ không biết."
"Mẹ không biết thật à?"
"Mẹ không biết thật." Bà gấp ngón tay con bé lại. "Mẹ chỉ biết bà mẹ chết vì nó. Con giữ. Đừng hỏi ai. Đừng khoe ai."
"Con giấu ở đâu?"
"Chỗ nào con hay sờ tay vào nhất mà không ai để ý."
Con bé nghĩ một lúc rất lâu, lâu hơn bà tưởng.
"Con biết rồi," nó nói.
Bà không hỏi là chỗ nào. Đó là điều duy nhất trong cả buổi chiều ấy mà về sau Nầm còn nhớ.
*
Nầm may cái túi vào năm bốn mươi tuổi, khi mắt bắt đầu kém và bà sợ một ngày nào đó mình sờ mãi không ra.
Túi may ở mặt trong vạt áo lót, dưới nách trái, hai lớp vải chồng lên nhau, đường khâu ngắn và mau.
"Bà khâu gì đấy?" chồng bà hỏi từ ngoài sân.
"Vá áo."
"Áo nào?"
"Áo cũ."
"Bà vá cái áo ấy ba lần rồi. Vứt đi tôi mua vải mới."
"Vải mới nộp thuế hết rồi còn đâu."
Ông ta cười một tiếng ngoài sân rồi thôi không hỏi nữa, và bà ngồi khâu nốt, mười bảy mũi, mũi cuối cùng gập lại giấu vào trong.
Đêm ấy bà nằm nghiêng bên trái, và có một chỗ cồm cộm ép vào xương sườn. Bà nằm như thế cho tới sáng. Từ đấy cho tới lúc chết, bà không ngủ nghiêng bên phải được nữa.
*
Đời sau nữa là bà Đỏ.
Năm ấy quan huyện cho người đi đếm lại hộ khẩu, ba năm một lần, và lần này họ vào tận trong nhà, mở cả bồ thóc, giở cả chiếu.
"Mở cái vò kia ra."
"Vò không, quan ạ."
"Mở."
Bà Đỏ mở. Trong vò có một ít tương đã lên váng trắng. Người lính ngửi rồi lùi lại.
"Còn cái gì bằng đồng trong nhà không?"
"Có cái nồi."
"Đâu?"
"Bán rồi. Bán năm ngoái, mua thóc giống."
"Còn gì nữa?"
"Còn cái này." Bà giơ cổ tay ra. Trên cổ tay có một cái vòng đồng mỏng dính, xỉn xanh, đúng loại mà đàn bà trong bãi ai cũng đeo một cái.
Người lính nhìn cái vòng, khoát tay, rồi đi sang nhà bên.
Suốt buổi ấy đứa con gái nhỏ của bà đứng ở góc nhà, hai má phồng lên, ngậm chặt. Đến lúc người ta ra khỏi ngõ, nó nhè ra lòng bàn tay mẹ một miếng đồng ướt nhoẹt nước dãi, cạnh sắc đã cứa vào lợi nó một đường máu.
"Đau không?"
"Đau."
"Đau thì nhớ lâu," bà Đỏ nói, và bà lau miếng đồng vào vạt áo.
*
Đời sau nữa là bà Rào, và bà Rào là người đầu tiên quên một câu.
Bà dạy con hát vào những buổi tối kéo sợi. Hát cho đều tay, hát cho khỏi buồn ngủ. Đến khúc giữa thì bà dừng.
"Mẹ, còn câu nữa mà."
"Còn."
"Câu gì?"
Bà Rào kéo sợi thêm một quãng dài.
"Mẹ không nhớ."
"Bà ngoại có dạy không?"
"Bà ngoại có dạy. Mẹ không nhớ."
"Thế thì bỏ đi hả mẹ?"
"Không bỏ." Bà đưa sợi qua tay trái. "Con cứ hát tới đấy rồi im một nhịp. Im đúng một nhịp thôi. Sau này có đứa nào nhớ ra thì nó điền vào."
Con bé hát lại từ đầu. Đến chỗ ấy nó im một nhịp, rồi hát tiếp.
"Nghe nó cụt lủn mẹ ạ."
"Ừ."
"Hay là con điền đại vào một câu."
"Đừng." Bà Rào dừng tay. "Con điền vào thì đời sau nó tưởng là thật. Cứ để trống. Trống thì người ta còn biết là mất."
"Mất cái gì hả mẹ?"
"Mẹ không biết."
Trong nhà chỉ có tiếng xa quay và tiếng hai người thở.
Về sau, khi bà Rào đã già lắm, có đêm bà tỉnh dậy và nằm nhẩm lại bài ấy từ đầu tới cuối, nhẩm ba bốn lượt liền. Đến chỗ trống bà vẫn dừng. Bà nằm chờ xem có cái gì trồi lên trong đầu mình không.
Không có gì trồi lên cả, và sáng ra bà cũng không kể với ai chuyện đêm qua mình đã nằm chờ.
*
Bà Vành là người mang miếng đồng về Mê Linh, vì bà lấy chồng ở đó, và đàn bà thì đi theo chồng.
Ngày con gái bà là Nhài về nhà chồng, bà gọi nó vào buồng trong lúc ngoài sân người ta đang mổ lợn.
"Cởi cái áo lót ra."
"Mẹ, người ta sắp sang đón."
"Cởi ra, nhanh."
Bà lộn trái vạt áo, khâu vội mười mấy mũi, rồi ấn miếng đồng vào trong.
"Cái gì thế mẹ?"
"Của mẹ. Của bà. Của các cụ."
"Là cái gì cơ?"
"Con đừng hỏi hôm nay." Bà vỗ vào vai con, hai cái, như vỗ cho phẳng áo. "Hôm nay con cứ cười cho người ta xem. Chuyện này để hôm khác."
Nhài mặc áo vào, sửa lại cổ, bước ra sân. Người ta khen cô dâu răng đen đều, tóc mượt, dáng đi thong thả.
Không ai nhìn thấy một chỗ hơi cộm dưới nách trái, và cả buổi hôm ấy Nhài giữ tay phải hơi khép vào người, cái dáng của một người đang giữ cái gì đó mà không được để ai biết là mình đang giữ.
Mười năm sau, trong cái xóm ven sông ấy, có một con bé bảy tuổi trèo cây giỏi hơn con trai, ít nói, và hay ngồi hát một mình ngoài cầu ao.
*
*Một trăm ba mươi năm, và không ai trong số họ hỏi bà là ai. Cũng phải. Người ta có hỏi cái nền nhà bao giờ đâu.*
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
**CHÚ THÍCH LỊCH SỬ — CHƯƠNG 3**
† **Kiểm kê hộ khẩu định kỳ và thu thuế bằng hiện vật** (thóc, vải) là thực tế hành chính của chính quyền đô hộ ở Giao Chỉ trong suốt thời kỳ này.
† **Vòng đồng đeo tay** là đồ trang sức phổ biến, tìm thấy nhiều trong các di chỉ khảo cổ văn hóa Đông Sơn và giai đoạn kế tiếp, nên một chiếc vòng mỏng trong nhà dân thường không phải vật đáng chú ý.
‡ **Việc kim loại đồng bị kiểm soát**: mức độ và cách thức chính quyền đô hộ quản lý đồ đồng trong dân thời kỳ đầu Bắc thuộc không có mô tả chi tiết trong sử liệu. Cảnh lính lục đồ đồng trong chương là dựng lại theo suy luận, không phải sự kiện được chép.
◆ **Bà Sẻ, Nầm, bà Đỏ, bà Rào, bà Vành, Nhài**, cùng toàn bộ tục truyền miếng đồng qua đường đàn bà trong họ, là hư cấu văn học. Việc đứa cháu mang tên họ mẹ trong truyện là lựa chọn của tác giả nhằm giữ mạch huyết thống của dòng giữ trống, không phải quy tắc đặt tên có nguồn sử liệu.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 4 →